Thứ Tư, 27 tháng 5, 2015
Chữa ung thư bằng liệu pháp ăn uống
Posted by
Unknown,
on
04:09
Ung thư không phải bệnh tử nếu chúng ta đọc hết bài này. Hầu hết mọi người suy sụp và tự chết về mặt tinh thần khi nghe mình mắc ung thư. Xong quả thực, nếu tìm hiểu kỹ, chắc chắn bạn không khỏi thắc mắc. Đôi khi bạn đọc một bài báo nói, nuôi 1 con mèo cũng có thể chữa được ung thư, hoặc bị bệnh viện trả về, nhưng với chế độ ăn uống đúng, bệnh đã thuyên giảm, và đến Tây y cũng phải thán phục.
Bệnh nhân đầu tiên là Huỳnh My, một năm về trước, anh được bác sỹ kết luận, bị mắc bệnh ung thư cuống phổi. Cục ung bướu to bằng cái chén, nằm ngay cuống phổi sát với động mạch chủ. Do vậy, trên phương diện tây y là không thể có cách nào cắt bỏ được. Những cơn ho dữ dội, và bác sỹ đã trả anh về uống thuốc, chờ chết. Nhưng chính việc trả về này, lại là cơ hội cứu sống cuộc đời anh. Anh My tâm sự : Ban đầu tinh thần tôi rất buồn, và buông xuôi mọi việc. Nhưng vô tình đọc một bài báo trên mạng. Thế nào, ngày nào tôi cũng áp dụng. Cách chữa khá đơn giản : Tuyệt đối không ăn thịt, cá, nhất là đường. Hầu như chỉ uống nước xay từ củ, rau xanh, cam táo...Chỉ sau 6 tháng, đi siêu âm lại, bác sỹ đã không còn phát hiện dấu tích của u bướu đó nữa.
Đây không phải là trường hợp hiếm gặp trong việc tự điều trị ung thư bằng chính chế độ ăn hợp lý. Theo anh My, có rất nhiều người cũng chia sẻ tự chữa, khi bệnh viện đã trả về, và theo phương pháp giống anh. Họ gọi là phương pháp : chemical therapy. Tế bào ung thư khi không được nuôi dưỡng bằng đường, thịt, thì nó tự động chết và cơ thể sẽ tự đào thải nó.
Cũng chính bệnh viên uy tín hàng đầu thế giới về chữa trị các loại ung thư tại Mỹ : Bệnh viên Johns Hopkins. Cũng đã phải thay đổi phương pháp, và công bố trực tiếp trên website. Trước kia các nhà khoa học uy tín hoạt động tại bệnh viện luôn đề cao phương pháp xạ trị. Coi đó là phương án cuối cùng cho giải quyết tất cả các loại bệnh ung bướu. Nhưng hiện nay, mọi người đã nhận thấy, cách hiệu quả nhất là ngừng cung cấp chất dinh dưỡng cho tế bào ung thư, để nó không phát triển được, đó là cách tốt nhất để chống lại căn bệnh quái ác này.
THỨC ĂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ :
1. ĐƯỜNG: là một loại thực phẩm ưu thích nhất của tế bào ung thư. Nếu người bệnh không sử dụng thức ăn có đường, thì đây chính là một mắt xích quan trọng để cắt nguồn thức ăn nuôi sống tế bào thức ăn. Tốt nhất là sử dụng mật ong Munaka, hay mật đường nhưng với số lượng vô cùng nhỏ. Bạn cũng cần lưu ý đến muối. Khi giờ chúng đều chứa chất phụ gia để làm muối trắng tinh. Lựa chọn là dùng muối biển, và các loại muối thực vật.
Đây không phải là trường hợp hiếm gặp trong việc tự điều trị ung thư bằng chính chế độ ăn hợp lý. Theo anh My, có rất nhiều người cũng chia sẻ tự chữa, khi bệnh viện đã trả về, và theo phương pháp giống anh. Họ gọi là phương pháp : chemical therapy. Tế bào ung thư khi không được nuôi dưỡng bằng đường, thịt, thì nó tự động chết và cơ thể sẽ tự đào thải nó.
Cũng chính bệnh viên uy tín hàng đầu thế giới về chữa trị các loại ung thư tại Mỹ : Bệnh viên Johns Hopkins. Cũng đã phải thay đổi phương pháp, và công bố trực tiếp trên website. Trước kia các nhà khoa học uy tín hoạt động tại bệnh viện luôn đề cao phương pháp xạ trị. Coi đó là phương án cuối cùng cho giải quyết tất cả các loại bệnh ung bướu. Nhưng hiện nay, mọi người đã nhận thấy, cách hiệu quả nhất là ngừng cung cấp chất dinh dưỡng cho tế bào ung thư, để nó không phát triển được, đó là cách tốt nhất để chống lại căn bệnh quái ác này.
THỨC ĂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ :
1. ĐƯỜNG: là một loại thực phẩm ưu thích nhất của tế bào ung thư. Nếu người bệnh không sử dụng thức ăn có đường, thì đây chính là một mắt xích quan trọng để cắt nguồn thức ăn nuôi sống tế bào thức ăn. Tốt nhất là sử dụng mật ong Munaka, hay mật đường nhưng với số lượng vô cùng nhỏ. Bạn cũng cần lưu ý đến muối. Khi giờ chúng đều chứa chất phụ gia để làm muối trắng tinh. Lựa chọn là dùng muối biển, và các loại muối thực vật.
2. SỮA : khi sữa vào cơ thể sẽ tạo ra chất nhày trong đường ruột. Và các tế bào rất ưa thích loại chất nhày này. Loại bỏ hoàn toàn sữa bò, thay thế bằng sữa đậu nành sẽ giúp cắt đi một nguồn dinh dưỡng lớn cho tế bào ung thư. Nhờ đó sẽ giúp chúng phải giảm kích cỡ xuống đáng kể.
3. MÔI TRƯỜNG AXIT : Các tế bào ung thư rất thích nồng độ axit cao, và nó có thể tăng trưởng nhanh với môi trường này. Do vậy, cần phải kiêng các loại thịt đỏ: như thịt bò, thịt chó... thay vì đó có thể ăn chút thịt gà, thịt cá. Cần phải lưu ý, thịt chứa nhiều kháng sinh, ký sinh trùng khá có hại cho người bị bệnh ung thư. Thịt lại rất khó tiêu thụ, do vậy nó tồn tại lâu sẽ gây ra nhiều độc tố rất có hại.
Đây không phải là những câu chuyện nhàm chán, mà tính xác thực là 100%. Nó được tổng hợp của cả Việt nam, cũng như trên thế giới. Chỉ khi nào ở giai đoạn cuối đời, bạn mới biết được, chế độ dinh dưỡng, sức khoẻ quan trọng đến mức nào. Hãy hành động ngay trước khi quá muộn.3. MÔI TRƯỜNG AXIT : Các tế bào ung thư rất thích nồng độ axit cao, và nó có thể tăng trưởng nhanh với môi trường này. Do vậy, cần phải kiêng các loại thịt đỏ: như thịt bò, thịt chó... thay vì đó có thể ăn chút thịt gà, thịt cá. Cần phải lưu ý, thịt chứa nhiều kháng sinh, ký sinh trùng khá có hại cho người bị bệnh ung thư. Thịt lại rất khó tiêu thụ, do vậy nó tồn tại lâu sẽ gây ra nhiều độc tố rất có hại.
Tránh xa các thực phẩm nuôi sống ung thư.
BIỆN PHÁP DINH DƯỠNG TỐT NHẤT :
1, 80% rau quả tươi là đều cần thiết. Đó cũng là chế độ ăn tốt nhất, uống nước ép, ngũ cốc, hạt, để tạo môi trường kiềm. Chúng ta chỉ dành 20% các thực phẩm nấu chín. Nhưng cần tránh xa các thực phẩm thịt đỏ, hải sản, tôm cua, thịt bò... Các loại thực phẩm rau, quả ép... giúp tế bào khoẻ mạnh, còn tế bào ung thư thì suy yếu. Nhờ đó sẽ giúp tống khứ những độc tố. Thanh lọc, và giúp cơ thể khoẻ mạnh hơn.
2, Tuyệt đối không nên dùng cafe, socola vì chứa nhiều cafeein gây hại cơ thể. Nhưng Trà xanh lại rất tốt cho sức khoẻ, chống lại ung thư. Nhưng tốt hơn cả là uống nước tinh khiết, nó sẽ hỗ trợ nhiều trong thải độc các loại độc tố gây hại.
3, Một số căn bệnh ung thư, sẽ có u bướu được bao bọc bởi một lớp protein khá cứng. Do vậy nếu không ăn thịt, thì thành tế bào phóng thích nhiều enzim, tấn công protein, cho phép hệ thống miễn dịch trong cơ thể tự đào thải, tiêu diệt tận gốc tế bào ung thư này. Tránh uống bia rượu, thịt đỏ, đặc biệt không ăn nhậu nhiều.
4, Một điểm quan trọng nhất, ung thư là căn bệnh của cơ thể, tâm trí và đặc biệt là tinh thần. Nếu chúng ta lạc quan, tích cực trong lối sống. Học cách thư giãn và tận hưởng tình yêu thương của cuộc sống, thì căn bệnh đó luôn bị đẩy lùi.
5, Các tế bào ung thư không thể sống trong môi trường có dưỡng khí. Do vậy thường xuyên tập thể dục hàng ngày, hít thở sâu, tập thiền, yoga, đều là các phương pháp khá hiệu quả chống lại căn bệnh quái ác.
6, Dioxin một chất cực kỳ có hại, và gây tác nhân lớn trong việc hình thành tế bào ung thư. Do vậy bạn cần lưu ý đến việc giữ gìn vệ sinh, tránh những hành động sinh ra dioxin. Ví dụ : để chai nhựa trong tủ lạnh, sẽ làm đồ mồ hôi, gây sinh chất diosin, nhiễm vào trong nước uống. Hoặc hạn chế ăn chất béo kết hợp với nhiệt độ cao, rồi để trong nhựa, cũng làm tạo ra dioxin.
VÌ SỨC KHOẺ CỦA CHÍNH BẢN THÂN VÀ GIA ĐÌNH - HÃY CHIA SẺ!
Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015
Tìm ra thuốc chữa khỏi bệnh viêm gan B mãn
Posted by
Unknown,
on
22:19
Các nhà khoa học Úc ngày 22-4 thông báo đã tìm ra loại thuốc chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm gan B mãn tính cho hàng trăm con chuột thí nghiệm và đang bắt đầu thử nghiệm trên người.
Loại thuốc nói trên là birinapant - một loại thuốc trị ung thư thử nghiệm của Mỹ. Các nhà khoa học nói nó cũng có thể được dùng để chữa HIV và bệnh lao kháng thuốc.
"Chúng tôi đã thành công 100% trong việc chữa HBV (bệnh do virút viêm gan B) cho hàng trăm con chuột thí nghiệm", ông Marc Pellegrini - đứng đầu nhóm nghiên cứu Viện Walter & Eliza Hall (Viện nghiên cứu y học lâu đời nhất ở Úc có trụ sở tại Melbourne) nói, RT ngày 22-4 trích đăng.
Birinapant do Mỹ sản xuất, hiện đã được thử nghiệm trên 350 người Mỹ nhưng chưa bán ra thị trường.
Ông Pellegrini cho biết qua thí nghiệm trên chuột, họ phát hiện nó phá hủy các tế bào bị viêm gan B mà không gây ảnh hưởng đến các tế bào bình thường.
Đặc biệt, khi dùng birinapant kết hợp với thuốc kháng virút entecavir, tế bào viêm gan B bị "dọn sạch" nhanh gấp 2 lần so với chỉ dùng mỗi birinapant.
"Chúng tôi hy vọng kết quả đầy hứa hẹn này cũng sẽ đạt được trong các thử nghiệm lâm sàng trên người - hiện đang được triển khai tại Melbourne, Perth và Adelaide", ông nói.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế giới hiện có hơn 350 triệu người bị viêm gan B mãn tính, đa số là ở các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi hạ Sahara. Bệnh có thể gây suy gan, suy thận và ung thư.
Bệnh nhân phải dùng thuốc suốt đời hoặc cho đến khi có thể được cấy ghép nội tạng. Bệnh khiến hơn 700.000 người tử vong mỗi năm.
Các nhà khoa học Úc thông báo đã tìm ra loại thuốc chữa khỏi hoàn toàn bệnh viêm gan B mãn tính ở chuột thí nghiệm và đang hi vọng sẽ chữa khỏi bệnh cho người - Ảnh: healthaim.com
Loại thuốc nói trên là birinapant - một loại thuốc trị ung thư thử nghiệm của Mỹ. Các nhà khoa học nói nó cũng có thể được dùng để chữa HIV và bệnh lao kháng thuốc.
"Chúng tôi đã thành công 100% trong việc chữa HBV (bệnh do virút viêm gan B) cho hàng trăm con chuột thí nghiệm", ông Marc Pellegrini - đứng đầu nhóm nghiên cứu Viện Walter & Eliza Hall (Viện nghiên cứu y học lâu đời nhất ở Úc có trụ sở tại Melbourne) nói, RT ngày 22-4 trích đăng.
Birinapant do Mỹ sản xuất, hiện đã được thử nghiệm trên 350 người Mỹ nhưng chưa bán ra thị trường.
Ông Pellegrini cho biết qua thí nghiệm trên chuột, họ phát hiện nó phá hủy các tế bào bị viêm gan B mà không gây ảnh hưởng đến các tế bào bình thường.
Đặc biệt, khi dùng birinapant kết hợp với thuốc kháng virút entecavir, tế bào viêm gan B bị "dọn sạch" nhanh gấp 2 lần so với chỉ dùng mỗi birinapant.
"Chúng tôi hy vọng kết quả đầy hứa hẹn này cũng sẽ đạt được trong các thử nghiệm lâm sàng trên người - hiện đang được triển khai tại Melbourne, Perth và Adelaide", ông nói.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế giới hiện có hơn 350 triệu người bị viêm gan B mãn tính, đa số là ở các nước đang phát triển ở châu Á và châu Phi hạ Sahara. Bệnh có thể gây suy gan, suy thận và ung thư.
Bệnh nhân phải dùng thuốc suốt đời hoặc cho đến khi có thể được cấy ghép nội tạng. Bệnh khiến hơn 700.000 người tử vong mỗi năm.
Theo tuoitre
Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014
Tìm hiểu các xét nghiệm chức năng gan
Posted by
Unknown,
on
20:30
Xét nghiệm chức năng gan ( LFTs) dùng để phản ánh tình trạng hoạt động của gan.. Tuy nhiên ngoài ý nghĩa, lợi ích cũng có hạn chế của xét nghiệm chức năng gan (LFTs). LFTs không thể xác định được những bệnh cụ thể của gan. Để xác định cần có xét nghiệm chuyên sâu và đặc biệt hơn. Ngoài ra, để chẩn đoán bệnh gan cần có kết quả chẩn đoán hình ảnh, như siêu âm gan, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ thường dùng để quan sát hình ảnh gan.
I.Tìm hiểu về xét nghiệm chức năng gan (LFTs)
Xét nghiệm chức năng gan để giúp bác sĩ đưa ra một vài nhận định rằng đang có vấn đề gì đó với gan. Nhưng đừng hiểu sai về xét nghiệm này. Trong khi LFTs thường được dùng để phản ánh tình trạng gan đang hoạt động tốt không, xét nghiệm này có thể bị sai vì không phải bất kỳ xét nghiệm máu nào cũng đánh giá chính xác tất cả các chức năng khác nhau của gan. Vì vậy, chỉ giống như đèn pha và thiết bị đo trong ô tô, LFTs không phải là dấu hiệu hoàn hảo để xác định chính xác bệnh. Tuy nhiên nó giúp cảnh báo cho bác sĩ rằng có điều gì đó bất ổn với gan. Hơn nữa nó giúp cho bác sĩ xác định sự cần thiết tiến hành thêm các xét nghiệm khác. Và khi kết hợp các kết quả xét nghiệm thêm này với LFTs, bác sĩ sẽ có cơ sở tốt hơn để chẩn đoán liệu gan bị bệnh gì và có đang hoạt động tốt không. Bằng việc lưu giữ một loạt kết quả LFTs từ những tháng và năm trước đó, trong một số trường hợp cả bác sĩ và bệnh nhân có thể dự đoán liệu tình trạng gan có ổn định không, có được cải thiện không, có hồi phục không hoặc xấu đi; biện pháp điều trị có đáp ứng không hoặc có cần thử biện pháp khác không; và liệu đã đến lúc bệnh nhân cần phải cấy phép gan chưa.
LFTs bao gồm nhiều xét nghiệm máu khác nhau để kiểm tra nồng độ men gan; bilirubin; và protein gan. Sau đây là các xét nghiệm này.
LFTs bao gồm nhiều xét nghiệm máu khác nhau để kiểm tra nồng độ men gan; bilirubin; và protein gan. Sau đây là các xét nghiệm này.
1.Men gan
Có 4 men gan khác nhau được đưa vào trong các xét nghiệm thông thường. Đó là aspartate aminotransferase (AST hoặc SGOT) và alanine aminotransferase (ALT hoặc SGPT) được biết đến như transaminase; và phosphate kiềm (AP) và gamma-glutamyl transferase (GGTP), được biết như men gan mật. Khi các men này tăng lên có thể biểu hiện của bệnh gan.
a.AST và ALT (transaminase)
AST và ALT thường liên quan đến viêm và/hoặc tổn thương tế bào gan, một tình trạng được coi là tổn thương tế bào gan. Tổn thương gan điển hình dẫn đến tình trạng rò gỉ men AST và ALT vào dòng máu.
Do AST được tìm thấy trong nhiều cơ quan khác ngoài gan bao gồm thận, cơ và tim, việc tăng mức AST không phải luôn luôn (nhưng thường) cho thấy có vấn đề về gan. Khi hoạt động thể lực mạnh cũng làm tăng nồng độ AST. Mặt khác, do ALT chủ yếu có ở gan nên nồng độ ALT cao hầu như luôn phản ánh tình trạng gan có vấn đề (tuy nhiên thì mức ALT bình thường không nhất thiết có nghĩa rằng gan bình thường. Điều này được đề cập ở phần sau).
Mặc dù có thể dự đoán được nhưng mức transaminase máu cao không phải luôn luôn biết mức độ viêm hoặc tổn thương gan. Đây là điểm quan trọng cần phải nhớ. Khoảng trung bình của AST và ALT tương ứng là 0-40 IU/l và 0-45 IU/l. (IU/l là đơn vị quốc tế trên lít và là cách thường được dùng nhiều nhất để định lượng những men đặc biệt này). Nhưng nếu một người có mức ALT là 50 IU/l không phải lúc nào cũng tốt hơn so với người có mức ALT 250 IU/l! Điều này do những xét nghiệm máu đánh giá sự tổn thương hoặc viêm gan được lấy mẫu vào những thời điểm đặc biệt. Ví dụ, nếu bị viêm gan và lấy mẫu vào thời điểm bệnh nhân mới uống rượu vài giờ trước khi lấy máu thì mức transaminase cao hơn nhiều lần so với những người không uống rượu. Cũng lý do tương tự, nếu gan đã bị tổn thương từ nhiều năm trước do uống rượu nhiều – kết quả xét nghiệm máu ngày hôm nay cho thấy bình thường có thể vẫn bị tổn thương gan.
Đi sâu hơn về vấn đề này, có nhiều yếu tố khác ngoài tổn thương gan có thể ảnh hưởng tới nồng độ AST và ALT. Ví dụ transaminase ở nam cao hơn nữ, nam giới Mỹ gôc Phi có mức AST cao hơn nam giới da trắng. Thậm chí thời điểm lấy máu trong ngày cũng ảnh hưởng tới mức transaminase; dường như mức transaminase vào buổi sáng và trưa cao hơn vào buổi tối. Thức ăn hầu như không ảnh hưởng rõ rệt tới mức transaminase. Vì vậy, không khác biệt rõ rệt giữa lúc đói và lúc bình thường. Transaminase cũng có thể thay đổi theo ngày.
Do AST được tìm thấy trong nhiều cơ quan khác ngoài gan bao gồm thận, cơ và tim, việc tăng mức AST không phải luôn luôn (nhưng thường) cho thấy có vấn đề về gan. Khi hoạt động thể lực mạnh cũng làm tăng nồng độ AST. Mặt khác, do ALT chủ yếu có ở gan nên nồng độ ALT cao hầu như luôn phản ánh tình trạng gan có vấn đề (tuy nhiên thì mức ALT bình thường không nhất thiết có nghĩa rằng gan bình thường. Điều này được đề cập ở phần sau).
Mặc dù có thể dự đoán được nhưng mức transaminase máu cao không phải luôn luôn biết mức độ viêm hoặc tổn thương gan. Đây là điểm quan trọng cần phải nhớ. Khoảng trung bình của AST và ALT tương ứng là 0-40 IU/l và 0-45 IU/l. (IU/l là đơn vị quốc tế trên lít và là cách thường được dùng nhiều nhất để định lượng những men đặc biệt này). Nhưng nếu một người có mức ALT là 50 IU/l không phải lúc nào cũng tốt hơn so với người có mức ALT 250 IU/l! Điều này do những xét nghiệm máu đánh giá sự tổn thương hoặc viêm gan được lấy mẫu vào những thời điểm đặc biệt. Ví dụ, nếu bị viêm gan và lấy mẫu vào thời điểm bệnh nhân mới uống rượu vài giờ trước khi lấy máu thì mức transaminase cao hơn nhiều lần so với những người không uống rượu. Cũng lý do tương tự, nếu gan đã bị tổn thương từ nhiều năm trước do uống rượu nhiều – kết quả xét nghiệm máu ngày hôm nay cho thấy bình thường có thể vẫn bị tổn thương gan.
Đi sâu hơn về vấn đề này, có nhiều yếu tố khác ngoài tổn thương gan có thể ảnh hưởng tới nồng độ AST và ALT. Ví dụ transaminase ở nam cao hơn nữ, nam giới Mỹ gôc Phi có mức AST cao hơn nam giới da trắng. Thậm chí thời điểm lấy máu trong ngày cũng ảnh hưởng tới mức transaminase; dường như mức transaminase vào buổi sáng và trưa cao hơn vào buổi tối. Thức ăn hầu như không ảnh hưởng rõ rệt tới mức transaminase. Vì vậy, không khác biệt rõ rệt giữa lúc đói và lúc bình thường. Transaminase cũng có thể thay đổi theo ngày.
Đôi điều về khoảng tham khảo bình thường
Khi kết quả xét nghiệm được đưa cho bác sĩ, họ thường so sánh với giá trị thu được từ một nhóm người khỏe mạnh. Khoảng của giá trị này được gọi là “giá trị bình thường” được gọi là giới hạn tham khảo hoặc khoảng tham khảo. Giá trị cao nhất và thấp nhất của khoảng này thường được gọi là giới hạn bình thường trên và giới hạn bình thường dưới. Khoảng tham khảo này có thể khác nhau chút ít tùy theo từng thời điểm và tùy vào từng phòng xét nghiệm. Bác sĩ sẽ chú ý đến giới hạn này khi đọc từng kết quả xét nghiệm cụ thể.
Khi kết quả xét nghiệm được đưa cho bác sĩ, họ thường so sánh với giá trị thu được từ một nhóm người khỏe mạnh. Khoảng của giá trị này được gọi là “giá trị bình thường” được gọi là giới hạn tham khảo hoặc khoảng tham khảo. Giá trị cao nhất và thấp nhất của khoảng này thường được gọi là giới hạn bình thường trên và giới hạn bình thường dưới. Khoảng tham khảo này có thể khác nhau chút ít tùy theo từng thời điểm và tùy vào từng phòng xét nghiệm. Bác sĩ sẽ chú ý đến giới hạn này khi đọc từng kết quả xét nghiệm cụ thể.
Tỷ lệ ALT và AST cũng có thể mang lại thông tin có giá trị liên quan đến mức độ và nguyên nhân bệnh gan. Hầu hết các bệnh gan thì mức tăng ALT cao hơn mức tăng AST nhưng có 2 trường hợp ngoại lệ. Xơ gan và nghiện rượu thì mức tăng AST cao hơn mức tăng ALT, thường tỷ lệ này là 2:1.
Mức tăng transaminase xảy ra do quá nhiều nguyên nhân nên chỉ giúp bác sĩ đưa ra một nhận định không rõ ràng. Cần phải làm thêm các xét nghiệm khác để xác định chính xác hơn xem gan bị bệnh gì. Những nguyên nhân sau có thể làm tăng mức transaminase:
Mức tăng transaminase xảy ra do quá nhiều nguyên nhân nên chỉ giúp bác sĩ đưa ra một nhận định không rõ ràng. Cần phải làm thêm các xét nghiệm khác để xác định chính xác hơn xem gan bị bệnh gì. Những nguyên nhân sau có thể làm tăng mức transaminase:
- Viêm gan do virus.
- Gan nhiễm mỡ.
- Bệnh gan do rượu.
- Bệnh gan do thuốc.
- Viêm gan tự miễn.
- Nhiễm độc thảo mộc.
- Bênh gan di truyền.
- U gan.
- Suy gan.
- Luyện tập gắng sức.
b.GGT và AP (Men gan mật)
Mức GGT và AP tăng có thể là biểu hiện của tắc mật hoặc tổn thương, hoặc viêm đường mật. Những bệnh này thường có đặc điểm là giảm hoặc không lưu thông đường mật, được gọi là ứ mật. Loại tổn thương gan kiểu này được gọi là tổn thương gan mật, bệnh gan được gọi là bệnh gan mật (xơ gan mật tiên phát là một ví dụ của bệnh gan mật). Ứ mật trong gan nói đến tình trạng tắc đường mật hoặc tổn thương bên trong gan. Ứ mật trong gan có thể gặp ở người bị xơ gan mật tiên phát hoặc ung thư gan . Ứ mật ngoài gan nói đến tình trạng ứ mật hoặc tổn thương ngoài gan. Ứ mật ngoài gan có thể xảy ra ở bệnh nhân bị sỏi mật.
Khi bị viêm hoặc tắc đường mật, GGT và AP có thể bị tràn ra như mở kho dự trữ và đi vào dòng máu. Những men này tăng lên rõ rệt – gấp gần 10 lần giá trị bình thường ở giới hạn trên.
GGT được tìm thấy chủ yếu trong gan. AP được tìm thấy chủ yếu trong xương và gan nhưng cũng có thể ở nhiều cơ quan khác như ruột, thận và nhau thai. Vì vậy, mức AP tăng chỉ phản ánh có vấn đề về gan nếu có kèm theo tăng GGT. Nên nhớ rằng GGT có thể tăng và không kèm theo tăng AP, vì GGT dễ bị ảnh hưởng bởi rượu và những thuốc có độc tính với gan. Lưu ý rằng, những người hút thuốc thường có mức AP và GGT cao hơn những người khác với những lý do chưa biết rõ. Tương tự, nồng độ AP và GGT gần như phản ánh chính xác sau khi nhịn đói 12 giờ. Bắt đầu có sự phức tạp khi đánh giá xét nghiệm chức năng gan bất thường!
Nồng độ AP bình thường vào khoảng 35-115 IU/l, và nồng độ GGTP bình thường vào khoảng 3-60 IU/L. Một số nguyên nhân sau có thể làm tăng nồng độ AP và GGTP:
Khi bị viêm hoặc tắc đường mật, GGT và AP có thể bị tràn ra như mở kho dự trữ và đi vào dòng máu. Những men này tăng lên rõ rệt – gấp gần 10 lần giá trị bình thường ở giới hạn trên.
GGT được tìm thấy chủ yếu trong gan. AP được tìm thấy chủ yếu trong xương và gan nhưng cũng có thể ở nhiều cơ quan khác như ruột, thận và nhau thai. Vì vậy, mức AP tăng chỉ phản ánh có vấn đề về gan nếu có kèm theo tăng GGT. Nên nhớ rằng GGT có thể tăng và không kèm theo tăng AP, vì GGT dễ bị ảnh hưởng bởi rượu và những thuốc có độc tính với gan. Lưu ý rằng, những người hút thuốc thường có mức AP và GGT cao hơn những người khác với những lý do chưa biết rõ. Tương tự, nồng độ AP và GGT gần như phản ánh chính xác sau khi nhịn đói 12 giờ. Bắt đầu có sự phức tạp khi đánh giá xét nghiệm chức năng gan bất thường!
Nồng độ AP bình thường vào khoảng 35-115 IU/l, và nồng độ GGTP bình thường vào khoảng 3-60 IU/L. Một số nguyên nhân sau có thể làm tăng nồng độ AP và GGTP:
- Xơ gan mật tiên phát.
- Bệnh gan nhiễm mỡ ở người không nghiện rượu.
- Viêm đường mật xơ hóa tiên phát
- Bệnh gan do rượu
- U gan
- Bệnh gan do thuốc
- Sỏi mật.
2.Bilirubin
Bilirubin là một chất có màu vàng do gan sản xuất ra khi nó tham gia vào quá trình tái tạo hồng cầu già. Khi chất này tăng lên, mắt và da cũng có màu vàng (vàng da), nước tiểu sẫm màu như trà đặc, phân có màu đất sét nhạt. Khi có tăng bilirubin, trong khi không có sự bất thường trong các xét nghiệm liên quan đến gan, thấy rõ khi thăm khám thực thể, thường đây là những bất thường liên quan tới gan với phần lớn dân số.
Một cụm từ mà bác sĩ thường được nghe từ bệnh nhân là “tôi không thể bị bệnh gan vì tôi không bị vàng da”. Mọi người thường ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết những người bị bệnh gan không bao giờ bị vàng da. Thực tế là mức tăng bilirubin thậm chí không liên quan chút nào tới bệnh gan. Sự chuyển hóa của bilirubin phức tạp và trải qua nhiều bước. Nếu trục trặc ở một trong số những bước này sẽ làm tăng nồng độ bilirubin. Vì nó có liên quan tới gan, nên mức tăng bilirubin thường đi kèm với tình trạng gan kém hoặc tắc mật. Một số nguyên nhân sau có thể gẫn đến tăng bilirubin:
Một cụm từ mà bác sĩ thường được nghe từ bệnh nhân là “tôi không thể bị bệnh gan vì tôi không bị vàng da”. Mọi người thường ngạc nhiên khi biết rằng hầu hết những người bị bệnh gan không bao giờ bị vàng da. Thực tế là mức tăng bilirubin thậm chí không liên quan chút nào tới bệnh gan. Sự chuyển hóa của bilirubin phức tạp và trải qua nhiều bước. Nếu trục trặc ở một trong số những bước này sẽ làm tăng nồng độ bilirubin. Vì nó có liên quan tới gan, nên mức tăng bilirubin thường đi kèm với tình trạng gan kém hoặc tắc mật. Một số nguyên nhân sau có thể gẫn đến tăng bilirubin:
- Xơ gan mật tiên phát
- Viêm đường mật xơ hóa tiên phát
- Viêm gan do rượu
- Tan máu – Hồng cầu bị vỡ
- Bệnh gan do thuốc
- Sỏi mật
- Suy gan hoặc tình trạng gan kém nói chung
- Những khối u có ảnh hưởng đến gan, đường mật hoặc túi mật.
- Viêm gan do virus.
- Rối loạn chuyển hóa bilirubin lành tính mang tính gia đình, như hội chứng Gibert.
Tăng bilirubin thường đi kèm với tăng AP và GGT. Khi tăng đồng thời bilirubin, AP và GGT có thể bị ứ mật. Tuy nhiên nếu mức bilirubin vẫn bình thường nhưng GGT và AP cao, thì có thể bị ứ mật không vàng da. Những bệnh có đặc điểm bilirubin cao, GGT và AP cao thường là bệnh gan mật.
3.Protein gan
Albumin, prothrobin (yếu tố II) và globulin miễn dịch là những protein được sản xuất chủ yếu bởi gan. Khi có bất thường về mức protein này có thể giúp xác định liệu có bị bệnh gan trầm trọng hay không.
4.Albumin
Mức albumin bình thường trong máu khoảng 4g/dl. Khi gan bị tổn thương nghiêm trọng, nó mất khả năng sản xuất albumin. Những người bị bệnh gan mãn tính đi kèm với tình trạng xơ gan thường có mức albumin dưới 3 g/dl. Mức albumin thấp nói chung chỉ tình trạng sức khỏe và dinh dưỡng kém và không chỉ có riêng ở bệnh gan.
Đôi điều về hội chứng Gilbert
Đôi điều về hội chứng Gilbert là một rối loạn chuyển hóa bilirubin di truyền, rất phổ biến và lành tính. Nó xuất hiện ở khoảng 4-9% dân số. Chúng có đặc điểm là tăng mức bilirubin không liên tục. Hội chứng này thường được phát hiện khi xét nghiệm máu thường xuyên, khi xét nghiệm này được tiến hành để đánh giá những bệnh khác, hoặc trước khi tuyển dụng hoặc trước khi tham gia bảo hiểm. Mức bilirubin thường tăng tới 3 mg/dl nhưng hiếm khi vượt quá mức 5 mg/dl. Mức tăng thường rõ rệt khi đói, stress, kỳ kinh nguyệt, hoặc khi bị ốm không phải do gan hoặc khi bị nhiễm khuẩn. Vàng da là bất thường duy nhất phát hiện thấy khi khám thực thể. Một số người có những triệu chứng thông thường như khó chịu vùng bụng, buồn nôn hoặc mệt mỏi; tuy nhiên một số chuyên gia lại cho rằng những triệu chứng này là do lo lắng. Tất cả các xét nghiệm chức năng gan đều bình thường. Không khuyến cáo làm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm gan và sinh thiết gan, nhưng nếu làm thì sẽ bình thường. Không có biến chứng lâu dài từ hội chứng vô hại này và không cần điều trị.
Đôi điều về hội chứng Gilbert là một rối loạn chuyển hóa bilirubin di truyền, rất phổ biến và lành tính. Nó xuất hiện ở khoảng 4-9% dân số. Chúng có đặc điểm là tăng mức bilirubin không liên tục. Hội chứng này thường được phát hiện khi xét nghiệm máu thường xuyên, khi xét nghiệm này được tiến hành để đánh giá những bệnh khác, hoặc trước khi tuyển dụng hoặc trước khi tham gia bảo hiểm. Mức bilirubin thường tăng tới 3 mg/dl nhưng hiếm khi vượt quá mức 5 mg/dl. Mức tăng thường rõ rệt khi đói, stress, kỳ kinh nguyệt, hoặc khi bị ốm không phải do gan hoặc khi bị nhiễm khuẩn. Vàng da là bất thường duy nhất phát hiện thấy khi khám thực thể. Một số người có những triệu chứng thông thường như khó chịu vùng bụng, buồn nôn hoặc mệt mỏi; tuy nhiên một số chuyên gia lại cho rằng những triệu chứng này là do lo lắng. Tất cả các xét nghiệm chức năng gan đều bình thường. Không khuyến cáo làm chẩn đoán hình ảnh như siêu âm gan và sinh thiết gan, nhưng nếu làm thì sẽ bình thường. Không có biến chứng lâu dài từ hội chứng vô hại này và không cần điều trị.
5.Thời gian prothrombin
Gan sản xuất ra phần lớn các yếu tố tạo ra cục máu đông mà cơ thể dùng để ngăn chặn sự chảy máu. Thời gian để tạo ra một cục máu đông này gọi là thời gian prothrombin (PT), thông thường khoảng từ 9-11 giây. Vitamin K là một thành phần quan trọng của quá trình tạo cục máu đông. Nếu gan bị tổn thương nghiêm trọng hoặc bị thiếu vitamin K (đôi khi xảy ra ở bệnh gan mật như xơ gan mật tiên phát), PT sẽ kéo dài hơn nhiều so với bình thường, do vậy làm tăng nguy cơ chảy máu quá mức. Trong một vài trường hợp, tiêm vitamin K giúp PT trở về bình thường. Khi tiêm vitamin K mà có cải thiện được PT cho thấy rằng gan vẫn còn chức năng. Khi PT không bình thường hóa được khi tiêm vitamin K, tình trạng đó gọi là bệnh chảy máu (có xu hướng xảy máu quá mức), tổn thương gan nặng và/ hoặc có suy gan. Để điều chỉnh sự khác nhau trong các phòng thí nghiệm cách đo PT, thường dùng tỷ lệ quốc tế (INR).
6.Globulin miễn dịch
Globulin miễn dịch là những protein liên quan đến hệ miễn dịch, một vài trong số này được được tạo ra ở gan và một số được tạo ra từ bạch cầu – tế bào máu trắng. Một vài loại globulin miễn dịch tăng lên ở nhiều người bị bệnh gan mãn tính. Mức tăng globulin miễn dịch A, G và M (IgA, IgG, IgM) có thể là biểu hiện của bệnh gan nào đó (xem bảng 3.1)
7.Tiểu cầu
Tiểu cầu là tế bào máu giúp hình thành cục máu đông. Lá lách đóng vai trò như một kho dự trữ tiểu cầu. Ở những người xơ gan, lá lách thường phải làm việc nhiều để bù lại chức năng bị suy giảm do tổn thương gan. Điều này thường làm cho lách to và số lượng tiểu cầu giảm, được gọi là giảm tiểu cầu. Bình thường tiểu cầu có số lượng từ 150-400 x 103/ microlit. Nếu bệnh nhân thấp hơn 150 x 103/ microlit được coi là giảm tiểu cầu, và nên nghĩ đến khả năng bị xơ gan.
8.Amoniac (NH3)
Amoniac là một sản phẩm phân hủy của amino acid. Tăng mức ammoniac trong máu có thể là một dấu hiệu của bệnh não. Một số bác sĩ dựa vào mức ammoniac để theo dõi bệnh nhân bị bệnh não, nhưng có một vài nghiên cứu cho thấy ít có mối tương quan giữa nồng độ ammoniac và mức độ của bệnh não, và việc sử dụng nó vào mục đích này còn đang còn gây tranh cãi. Không khuyến cáo xác định nồng độ ammoniac cho bệnh nhân bị bệnh gan, vì bất kỳ bệnh gan nào cũng có thể làm tăng nhẹ thông số này và không phải là chẩn đoán của bệnh não. Cuối cùng, có nhiều yếu tố làm tăng giả mức ammoniac mà có thể biết được sự sai số bao gồm hút thuốc, dùng một vài thuốc nhất định (như acid valproic), tình cờ bị lẫn mồ hôi vào mẫu máu trong quá trình lấy máu và phòng thí nghiệm chậm làm phân tích máu.
9.Một vài lưu ý cuối cùng về xét nghiệm máu
Nên nhớ một số loại xét nghiệm máu riêng biệt không thể dùng để dự đoán sự tiển triển của bệnh gan. Bản thân những xét nghiệm này ít khi biểu hiện rõ rệt. Chúng chỉ có ý nghĩa khi kết hợp với một số các yếu tố khác, chúng phải được đánh giá kỹ lưỡng bởi bác sĩ. Nói cách khác, không nên quá đề cao những xét nghiệm riêng lẻ này. Mỗi xét nghiệm chỉ là một phần của sự phức tạp. Trong hầu hết các trường hợp, các xét nghiệm này chỉ đưa ra nhận định rằng có vấn đề gì bất ổn – chỉ là bước đầu tiên để đi đến sự chẩn đoán chính xác.
Sau khi đánh giá các kết quả xét nghiệm thông thường, thường yêu cầu làm thêm xét nghiệm máu cụ thể để tìm ra nguyên nhân chính xác của các bất thường về gan. Bảng 3.1 liệt kê các xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh gan cụ thể. Nói chung, khoa xét nghiệm đưa cho bác sĩ kết quả xét nghiệm máu thông thường trong vòng 1 hoặc 2 ngày; nhưng kết quả xét nghiệm máu riêng biệt hơn có thể cần tới 2 tuần, phụ thuộc vào từng khoa xét nghiệm. Thời gian chờ đợi này thật không dễ dàng gì (bệnh nhân cần phải kiên nhẫn).
Sau khi đánh giá các kết quả xét nghiệm thông thường, thường yêu cầu làm thêm xét nghiệm máu cụ thể để tìm ra nguyên nhân chính xác của các bất thường về gan. Bảng 3.1 liệt kê các xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh gan cụ thể. Nói chung, khoa xét nghiệm đưa cho bác sĩ kết quả xét nghiệm máu thông thường trong vòng 1 hoặc 2 ngày; nhưng kết quả xét nghiệm máu riêng biệt hơn có thể cần tới 2 tuần, phụ thuộc vào từng khoa xét nghiệm. Thời gian chờ đợi này thật không dễ dàng gì (bệnh nhân cần phải kiên nhẫn).
Bảng 3.1 Xét nghiệm máu được dùng để chẩn đoán những bệnh cụ thể của gan
| Bệnh gan | Xét nghiệm máu | Đường lây |
| Viêm gan A | Kháng thể viêm gan A IgM và IgG | Đường ăn uống |
| Viêm gan B | Kháng thể nhân viêm gan B (HbcAb) Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HbsAg) Kháng thể bề mặt viêm gan B (HBsAb) Kháng thể e viêm gan B (HBeAb) Kháng nguyên e viêm gan B (HBeAg) DNA virus viêm gan B (HBV DNA) | Đường máu, sinh dục, mẹ mang thai lây con |
| Viêm gan C | Kháng thể virus viêm gan C (HCVAb) Acid Ribonucleic virus viêm gan C (HCV RNA) Tăng globulin miễn dịch (IgG) | Đường máu, sinh dục, mẹ mang thai lây con. |
| Viêm gan tự miễn | Kháng thể kháng nhân (ANA) Kháng thể cơ trơn (SMA) Kháng thể vi thể thận/ kháng gan (LKMAb) Tăng globulin miễn dịch G (IgG) | Không lây |
| Xơ gan mật tiên phát | Kháng thể kháng (AMA) Tăng globulin miễn dịch M (IgM) | Không lây |
| Bệnh gan do rượu | Tăng nồng độ cồn trong máu Tăng globulin miễn dịch A (IgA) Thể tích huyết cầu trung bình >95 fl Thiếu vitamin B12 và acid folic Mức transferrin đã khử sialic acid | Không lây, do uống nhiều rượu |
| Nhiễm sắc tố sắt mô | Sắt Ferritin Phần trăm bão hòa transferrin Khả năng gắn sắt toàn phần (TIBC) Xét nghiệm gen – sự tương hợp trong ghép mô kháng nguyên hồng cầu (HLA-H) và phân tích thăm dò DNA bằng PCR. | Không lây Có tính gia đình |
| Ung thư gan | Alpha-Fetoprotein (AFP) > 400 ng/dl | Không lây |
II.Tìm hiểu về chẩn đoán hình ảnh
Sau khi tiến hành xét nghiệm máu, bác sĩ sẽ muốn xem hình ảnh tổng thể của gan. Vì vậy, bước tiếp theo là đi đến phòng X quang để có được một hoặc hơn hình ảnh của gan.
Có một số phương pháp được dùng để thu được hình ảnh của gan bao gồm siêu âm, chụp cắt lớp vi tính hoặc còn gọi là CT hoặc chụp cắt lớp CAT hoặc chụp cộng hưởng từ. Tất cả phương pháp này không cần phải can thiệp ngoại khoa, nó không làm đau và có thể tiến hành khi bệnh nhân đang tỉnh và được nằm xuống. Một hoặc hơn biện pháp này được thực hiện để định vị gan chính xác khi nó bị nghi ngờ có liên quan tới cơ quan khác; để xác định xem có những khối bất thường trong gan hay không; để đánh giá xem gan có bị to hoặc bị teo hay không; và/hoặc xem có sỏi mật trong túi mật hay không.
Có một số phương pháp được dùng để thu được hình ảnh của gan bao gồm siêu âm, chụp cắt lớp vi tính hoặc còn gọi là CT hoặc chụp cắt lớp CAT hoặc chụp cộng hưởng từ. Tất cả phương pháp này không cần phải can thiệp ngoại khoa, nó không làm đau và có thể tiến hành khi bệnh nhân đang tỉnh và được nằm xuống. Một hoặc hơn biện pháp này được thực hiện để định vị gan chính xác khi nó bị nghi ngờ có liên quan tới cơ quan khác; để xác định xem có những khối bất thường trong gan hay không; để đánh giá xem gan có bị to hoặc bị teo hay không; và/hoặc xem có sỏi mật trong túi mật hay không.
1.Siêu âm
Siêu âm được cho là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh thai nhi ở phụ nữ mang thai, thực tế nó là phương pháp chẩn đoán hình ảnh được dùng nhiều nhất để xem hình ảnh gan. Đây là phương pháp nhanh và ít tốn kém để quan sát hình ảnh của cơ quan này. Mặt dù được thực hiện tại phòng X quang nhưng thực tế không sử dụng tia X – sóng âm để thu được hình ảnh.
Siêu âm thường được tiến hành vào lúc đói. Khi đó túi mật chứa đầy mật và dễ dàng nhìn thấy sỏi mật. Thực tế có tới 95% số sỏi mật được phát hiện ra nhờ siêu âm. Siêu âm cũng dùng để phát hiện những khối u trong gan có thể lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư), nhưng nó không thể phân biệt được 2 loại này. Hơn nữa siêu âm có thể ước lượng được kích thước khối u. Tuy nhiên ngay cả khi siêu âm cho kết quả bình thường, điều này không có nghĩa là gan không có vấn đề. Thực tế, có nhiều người bị bệnh gan nhưng kết quả siêu âm vẫn thấy bình thường. Vì vậy đừng ngạc nhiên nếu bác sĩ yêu cầu làm thêm các xét nghiệm sau khi siêu âm.
Siêu âm thường được tiến hành vào lúc đói. Khi đó túi mật chứa đầy mật và dễ dàng nhìn thấy sỏi mật. Thực tế có tới 95% số sỏi mật được phát hiện ra nhờ siêu âm. Siêu âm cũng dùng để phát hiện những khối u trong gan có thể lành tính (không ung thư) hoặc ác tính (ung thư), nhưng nó không thể phân biệt được 2 loại này. Hơn nữa siêu âm có thể ước lượng được kích thước khối u. Tuy nhiên ngay cả khi siêu âm cho kết quả bình thường, điều này không có nghĩa là gan không có vấn đề. Thực tế, có nhiều người bị bệnh gan nhưng kết quả siêu âm vẫn thấy bình thường. Vì vậy đừng ngạc nhiên nếu bác sĩ yêu cầu làm thêm các xét nghiệm sau khi siêu âm.
2.Chụp cắt lớp và cộng hưởng từ
Chụp cắt lớp và cộng hưởng từ đưa ra hình ảnh toàn diện hơn của gan liên quan đến các cơ quan liền kề. Nó thường được sử dụng để đánh giá sâu hơn về khối u phát hiện được bằng siêu âm. Chụp cắt lớp sử dụng bức xạ gamma bằng cách cho tia X đi qua gan. Bất kỳ khối u nào đều cản tia X trên đường đi và lưu lại 1 hình ảnh. Với cộng hưởng từ, bức xạ từ sẽ tạo ra hình ảnh của gan. Cộng hưởng từ hữu ích trong việc phát hiện ra gan nhiễm mỡ, quá tải sắt, và u mạch máu – một khối u máu lành tính.
3.Một vài điều kết luận về chẩn đoán hình ảnh
Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đem lại nhiều kết quả có ích làm tăng sự chính xác trong chẩn đoán. Tuy nhiên, ngay cả các kỹ thuật tiên tiến này cũng không thể biết được toàn bộ quá trình đang diễn ra trong gan. Điều quan trọng là phải hiểu rằng gan được ngụy trang rất tốt. Ngay cả những người bị bệnh gan nặng và xơ gan có thể cho kết quả chẩn đoán hình ảnh bình thường. Đây là điều quan trọng cần nhớ và được lặp đi lặp lại. Siêu âm, chụp cắt lớp và cộng hưởng từ có thể cho kết quả hoàn toàn bình thường tại bất kỳ giai đoạn nào của bệnh gan. Điều này giải thích tại sao bác sĩ phải dựa vào sinh thiết gan, như một tiêu chuẩn vàng để đánh giá bệnh gan.
III.Kết luận
Sau khi xem xong phần trên bạn đã có thể hiểu rằng xét nghiệm máu và chẩn đoán hình ảnh có thể đưa ra một vài nhận định quan trọng, nhưng không phải lúc nào cũng xác định chính xác đang có bệnh gì với gan. Nó cũng không giúp đánh giá được mức độ viêm hoặc tổn thương gan. Sinh thiết gan là xét nghiệm duy nhất có thể cung cấp chính xác thông tin này. . Nhưng trước hết, điều quan trọng là phải gặp bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm để xác định khi nào cần làm sinh thiết gan và có kỹ năng để đọc kết quả và sử dụng nó một cách hiệu quả nhất phục vụ cho việc điều trị. Điều này cũng lý giải những kỹ năng gì mà bác sĩ chuyên khoa cần có và có thể thu thập được thông tin này ở đâu và khi nào.
Nguồn bài viết: drthuthuy.com
Thứ Hai, 23 tháng 6, 2014
Chẩn đoán nguyên nhân đau bụng qua vị trí
Posted by
Unknown,
on
22:13
Đau bụng là triệu chứng thường gặp, chúng xuất hiện đơn lẻ hoặc đi kèm với nhiều dấu hiệu khác. Bạn có thể chẩn đoán bệnh thông qua vị trí đau ở đâu.
Khi bạn ăn phải những thực phẩm nhiều chất béo, thực phẩm sinh hơi hoặc dung nạp quá nhiều thức ăn vào dạ dày, bạn rất dễ bị đau bụng. Đau bụng thường khỏi trong vài giờ hoặc kéo dài vài ngày. Đây là hiện tượng bình thường không nguy hiểm, nhưng cũng là dấu hiệu cảnh báo bạn cần chú ý đến sức khỏe hơn.
Việc xác định nguyên nhân gây đau bụng thường rất phức tạp. Xác định vị trí đau sẽ giúp bác sĩ phát hiện nguyên nhân sâu xa gây nên. Bên dưới là hình minh họa, chẩn đoán các nguyên nhân gây đau bụng phổ biến, dựa vào từng vị trí. Nếu bạn bị đau bụng kéo dài, cơn đau thường xuyên lặp lại, khiến cơ thể khó chịu, khả năng bạn bị những bệnh sau đây khá cao:
Khi nào cần khám bệnh?
Mặc dù phần lớn đau bụng không trầm trọng, một số triệu chứng có thể báo hiệu một bệnh nặng. Tuy nhiên, thường không thể chẩn đoán nguyên nhân đau bụng dựa theo triệu chứng hoặc vị trí đau. Hãy đến bệnh viện nếu thấy:
- Đau nặng, tái phát hoặc kéo dài.
- Đau ngày càng nặng hơn.
- Đau kèm theo thở gấp, chóng mặt, xuất huyết, nôn hoặc sốt cao.
Khi bạn ăn phải những thực phẩm nhiều chất béo, thực phẩm sinh hơi hoặc dung nạp quá nhiều thức ăn vào dạ dày, bạn rất dễ bị đau bụng. Đau bụng thường khỏi trong vài giờ hoặc kéo dài vài ngày. Đây là hiện tượng bình thường không nguy hiểm, nhưng cũng là dấu hiệu cảnh báo bạn cần chú ý đến sức khỏe hơn.
Việc xác định nguyên nhân gây đau bụng thường rất phức tạp. Xác định vị trí đau sẽ giúp bác sĩ phát hiện nguyên nhân sâu xa gây nên. Bên dưới là hình minh họa, chẩn đoán các nguyên nhân gây đau bụng phổ biến, dựa vào từng vị trí. Nếu bạn bị đau bụng kéo dài, cơn đau thường xuyên lặp lại, khiến cơ thể khó chịu, khả năng bạn bị những bệnh sau đây khá cao:
Khi nào cần khám bệnh?
Mặc dù phần lớn đau bụng không trầm trọng, một số triệu chứng có thể báo hiệu một bệnh nặng. Tuy nhiên, thường không thể chẩn đoán nguyên nhân đau bụng dựa theo triệu chứng hoặc vị trí đau. Hãy đến bệnh viện nếu thấy:
- Đau nặng, tái phát hoặc kéo dài.
- Đau ngày càng nặng hơn.
- Đau kèm theo thở gấp, chóng mặt, xuất huyết, nôn hoặc sốt cao.
Thứ Sáu, 30 tháng 5, 2014
Giải mã kết quả xét nghiệm máu
Posted by
Unknown,
on
18:34
Trong phiếu kết quả xét nghiệm máu luôn có các cột: kết quả, trị số bình thường. Những chỉ số ấy có ý nghĩa gì, nó có “báo cáo” cụ thể các bệnh trong cơ thể không?
Máu do ba loại tế bào hợp thành là hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Hồng cầu làm nhiệm vụ chuyên chở oxy từ phổi đến các cơ quan. Người trưởng thành bình thường có từ bốn-năm triệu hồng cầu/mm3 máu, phụ nữ thấp hơn đàn ông một chút. Tiểu cầu điều hòa sự đông đặc của máu. Nhờ vậy, đếm tế bào máu sẽ biết được máu loãng hay đặc, bệnh ung thư máu. Ngoài ra còn có huyết cầu tố, đây là “xe” chở dưỡng khí. Nếu lượng huyết cầu tố thấp HGB hơn mức trị số bình thường có thể bị thiếu máu. Bạch cầu gồm năm loại khác nhau cùng chung nhiệm vụ tấn công các vi sinh vật gây bệnh. Mủ tại các vết thương là xác chết của bạch cầu và vi sinh vật gây bệnh tạo ra. Số lượng bạch cầu tăng hơn mức bình thường cũng báo động có… quân địch trong cơ thể (viêm nhiễm…).
Xét nghiệm máu còn phát hiện các loại vi-rút gây bệnh HIV, viêm gan siêu vi A, B, C… Khi bị các bệnh này, do cần điều trị ngay nên bác sĩ sẽ tư vấn cụ thể. Bên cạnh phát hiện bệnh do lây nhiễm, máu còn “tố giác” nhiều mầm bệnh khác như tim mạch, huyết áp. TS Nguyễn Hoài Nam - Đại học Y Dược TP.HCM cho biết: “Cholesterol có hai loại, LDL hiện diện nhiều thì có hại cho cơ thể (chất này đem cholesterol do gan sản xuất ra các bộ phận khác trong cơ thể, nếu thừa sẽ gây xơ vữa, huyết khối)…, còn HDL có mặt đông đủ lại có ích cho sức khỏe vì chuyên chở cholesterol từ vùng xa về gan, hạ bớt mỡ trong các mạch máu. Vì thế, ngoài xem xét các chỉ số, cần xem thêm triglixerit, nếu tăng nên tìm thầy chữa bệnh. Khi cholesterol tăng mà không điều trị thì điều gì xảy ra? Chúng làm cho dòng chảy của máu chậm lại. Chính tốc độ này khiến hình thành các mảng xơ vữa trong lòng mạch máu. Đến một ngày, khi lòng mạch bị phá hủy hoàn toàn sẽ “bục”, nếu mạch máu ở não thì gây tai biến mạch máu não. Còn nếu mạch máu ở tim thì gây nhồi máu cơ tim…
Thông qua máu, nhiều cơ quan nội tạng báo cáo được tình hình sức khỏe của chúng. Hai men gan thường xuất hiện trong bảng kết quả là: SGOT (còn gọi là AST), SGPT (còn gọi là ALT). Đã có trường hợp phát hiện nhiễm viêm gan nhờ kết quả xét nghiệm cho thấy men gan tăng. Bác sĩ chuyên khoa gan chỉ định xét nghiệm tìm viêm gan siêu vi. Kết quả người bệnh bị viêm gan siêu vi C. Khi còn trẻ, dưới 40 tuổi, là phụ nữ (không hút thuốc, không uống rượu), số lượng vi-rút chưa nhiều… nên người bệnh đã được điều trị khỏi bệnh (không còn sự hiện diện của vi-rút trong máu).
Ngoài ra, các chỉ số khác như: Albumin giảm hơn chỉ số bình thường báo động nhiều nguyên nhân có thể là bị bệnh ở gan hoặc thận, suy dinh dưỡng, viêm…, Globulin tăng khi gan bị đau hoặc bị một bệnh nào đó…, Glucose: nồng độ đường trong máu thường là con số không đổi, người bình thường dưới 126mg/dl hay dưới 7mmol/l (các phòng xét nghiệm có thể cho kết quả là đơn vị này hoặc đơn vị kia). Bên cạnh xét nghiệm máu tìm bệnh tiểu đường, ngày nay còn có những xét nghiệm tiến bộ hơn để tìm ra những người tiền tiểu đường nhằm có biện pháp phòng bệnh từ xa. BS Phan Thanh Hải - Giám đốc Trung tâm Chẩn đoán y khoa TP.HCM cho biết: “Xét nghiệm máu thấy đường huyết bình thường thì không thể biết được trước đó đã từng tăng cao hay chưa. Nhưng với chỉ số HbA1C thì biết được nhờ vào lời “tố cáo” của các hồng cầu tố”. Việc biết sớm tiền tiểu đường có giá trị sức khỏe rất lớn. Nhưng khi bị giảm đường huyết cần đi khám tìm nguyên nhân điều trị vì đó có thể đã bị bệnh gan, tuyến giáp…
Dấu vết còn lại sau khi tiêu hóa chất đạm trong máu là: Acid uric tăng ở những người ăn nhiều đạm, uống bia rượu… chỉ số này cao còn báo động bệnh gút. Những ai bị bệnh thận hoặc có thân nhân bị bệnh này rất rành các chỉ số về creatinin. Theo TS Phạm Văn Bùi - BV Nguyễn Tri Phương TP.HCM thì: “Chỉ số creatinin cao thì nên đi khám chuyên khoa thận niệu để điều trị vì thận đã suy”.
Phương Nam
Nguồn phunuonline.com.vn
Thứ Tư, 21 tháng 5, 2014
15 loại rau quả sạch nhất bạn nên ăn mà không sợ thuốc trừ sâu
Posted by
Unknown,
on
01:52
Nhóm Công tác Môi trường của Mỹ vừa công bố danh sách cập nhật các loại trái cây dễ bị phơi nhiễm nhiều thuốc trừ sâu nhất và kèm theo một danh sách các loại trái cây sạch nhất.
Để hoàn thành danh sách này, Nhóm Công tác Môi trường đã tập trung vào 48 loại trái cây, rau quả phổ biến và dựa trên một phân tích gồm 32.000 mẫu được kiểm tra bởi Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Cục quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Mỹ (FDA).
1. Táo
2 . Dâu tây
3 . Nho
4 . Cần tây
5 . Đào
6 . Rau bina
7 . Ớt chuông
8 . Quả xuân đào
9 . Dưa chuột
10 . Cà chua anh đào
11. Đậu tây
12. Khoai tây
Những phát hiện quan trọng khác:
- Chỉ 1% mẫu bơ được phát hiện chứa thuốc trừ sâu
- 89% dứa, 82% kiwi, 80% đu dủ, 88% xoài, 61% dưa đỏ không có dư lượng thuốc trừ sâu.
Danh sách trên chỉ dựa vào tập quán trồng cây và độ đòi hỏi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho từng loại cây trồng.Ngoài thuốc trừ sâu, trái cây và rau củ còn được sử dụng rất nhiều loại hóa chất khác như chất bảo quản... Vì vậy, danh sách trên chỉ mang tính chất tham khảo, giúp cho người tiêu dùng, đặc biệt là các bà nội trợ có lựa chọn tốt nhất cho sức khoẻ gia đình mình!
Táo là loại quả dễ chứa thuốc trừ sâu nhất.
Và đây là danh sách 15 loại trái cây sạch nhất:
1. Bơ
2 . Bắp (ngô) ngọt
3 . Dứa
4 . Bắp cải
5 . Đậu hà lan ( đông lạnh )
6 . Hành
7 . Măng tây
8 . Xoài
9 . Đu đủ
10 . Kiwi
11. Cà tím
12. Bưởi
13. Dưa đỏ
14. Súp lơ trắng
15 . Khoai lang
Sau đây là danh sách 12 loại trái cây chứa nhiều thuốc trừ sâu nhất:1. Bơ
2 . Bắp (ngô) ngọt
3 . Dứa
4 . Bắp cải
5 . Đậu hà lan ( đông lạnh )
6 . Hành
7 . Măng tây
8 . Xoài
9 . Đu đủ
10 . Kiwi
11. Cà tím
12. Bưởi
13. Dưa đỏ
14. Súp lơ trắng
15 . Khoai lang
1. Táo
2 . Dâu tây
3 . Nho
4 . Cần tây
5 . Đào
6 . Rau bina
7 . Ớt chuông
8 . Quả xuân đào
9 . Dưa chuột
10 . Cà chua anh đào
11. Đậu tây
12. Khoai tây
Những phát hiện quan trọng khác:
- 99% các mẫu thử táo có ít nhất một dư lượng thuốc trừ sâu.
- Nếu tính theo lượng thuốc trừ sâu trên cân nặng, khoai tây chứa nhiều thuốc trừ sâu nhất trong các loại rau củ, trái cây.
- Chỉ một mẫu thử nho duy nhất dương tính với 15 loại thuốc trừ sâu
- Các mẫu cần tây, cà chua, đậu hà lan và dâu, mỗi mẫu dương tính với 13 loại thuốc trừ sâu khác nhau
- 89% dứa, 82% kiwi, 80% đu dủ, 88% xoài, 61% dưa đỏ không có dư lượng thuốc trừ sâu.
Danh sách trên chỉ dựa vào tập quán trồng cây và độ đòi hỏi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho từng loại cây trồng.Ngoài thuốc trừ sâu, trái cây và rau củ còn được sử dụng rất nhiều loại hóa chất khác như chất bảo quản... Vì vậy, danh sách trên chỉ mang tính chất tham khảo, giúp cho người tiêu dùng, đặc biệt là các bà nội trợ có lựa chọn tốt nhất cho sức khoẻ gia đình mình!
Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014
3 tác hại nghiêm trọng nhưng ít được biết đến của tỏi
Posted by
Unknown,
on
02:42
Tỏi cất giữ quá lâu trong tủ lạnh, lên mầm... thường không tốt cho sức khỏe và rất dễ ngộ độc nếu vẫn ăn. Khi bị ngộ độc tỏi nặng thì có thể dẫn đến tử vong.
ăn nhiều tỏi có thể gây ảnh hưởng đến mắt, gan, thận và một số bệnh khác.
Khi ăn tỏi cần phải lưu ý những điều không mong muốn sau:* Tác hại khi ăn tỏi
- Tỏi cất giữ quá lâu trong tủ lạnh, lên mầm... thường không tốt cho sức khỏe và rất dễ ngộ độc nếu vẫn ăn. Khi bị ngộ độc tỏi, dấu hiệu dễ nhận thấy là khó chịu trong dạ dày, nặng hơn thì có thể dẫn tới tử vong.
- Có những người không ăn được tỏi do dị ứng hoặc không tiêu hóa được. Vì vậy, nếu ăn tỏi mà thấy các dấu hiệu như ợ nóng, đầy hơi... thì rất có thể bạn đã bị dị ứng với tỏi, tốt nhất nên ngưng ăn tỏi. Trường hợp dị ứng tỏi nghiêm trọng cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe.
- Ăn nhiều tỏi, nhất là tỏi sống sẽ khiến cho hệ tiêu hóa gặp rắc rối, ví dụ như gây kích ứng hoặc làm tổn thương các bộ phận trong hệ tiêu hóa.
* Những điều cần lưu ý khi dùng tỏi tươi và chế phẩm tỏi
- Không ăn cả tép tỏi nguyên
- Không nuốt cả tép tỏi
- Không ăn tỏi khi đói
- Không ăn quá nhiều tỏi thường xuyên (tối đa không quá 15g/ngày).
- Không dùng tỏi và chế phẩm có chứa tỏi, đồng thời với Warfarin (thuốc chống đông máu) trước khi mổ.
- Không đắp tỏi lên da lâu quá 10 phút
- Không dùng tỏi đắp lên da đối với những người dị ứng với tỏi
- Khi dùng tỏi để trị giun kim không được dùng quá liều có thể bị viêm ruột hoặc tiêu chảy.
Đăng ký:
Bài đăng
(
Atom
)







